Thứ Ba, 29 tháng 3, 2016

Kế hoạch tấn công khủng bố nước Mỹ của Hitler

Kế hoạch khủng bố nước Mỹ của Hitler thất bại do sự mềm lòng của một thành viên trong đội biệt kích quốc xã từng có thời gian phục vụ trong quân đội Mỹ.
ke-hoach-tan-cong-khung-bo-nuoc-my-cua-hitler
8 thành viên trong đội biệt kích khủng bố nước Mỹ của Đức Quốc xã. Nhóm trưởng Dasch ở hàng trên, bên trái ngoài cùng. Ảnh: Weta
Trong khoảng thời gian đầu của Thế chiến 2, tuy không trực tiếp tham chiến, nhưng Mỹ đã có những hỗ trợ đáng kể cho phe Đồng minh bằng cách cung cấp nhiều vũ khí và trang thiết bị hạng nặng cho Anh và quân đội Tự do Pháp. Điều này đã làm Hitler tức giận và ra lệnh cho thuộc cấp bằng mọi cách phài kìm hãm năng suất nền công nghiệp quốc phòng của Mỹ, theo Swiss military.
Thừa lệnh của trùm phát xít, năm 1942, các nhà chiến lược Đức quốc xã đã vạch ra một kế hoạch tấn công phá hoại nhằm vào các mục tiêu như nhà máy luyện kim, nhà máy phát điện, hệ thống đường ray xe lửa và cầu đường trên toàn nước Mỹ. Trung úy Walter Kappe, chỉ huy đơn vị tình báo số 2, từng có thời gian sống tại Mỹ và công tác trong tổ chức hữu nghị Mỹ - Đức, được giao nhiệm vụ phụ trách kế hoạch.
Tháng 4/1942, sau một thời gian tìm kiếm và sàng lọc, Kappe đã tuyển được 8 thành viên đáp ứng đầy đủ các điều kiện bắt buộc như thành thạo tiếng Anh và từng có thời gian dài sống và làm việc tại Mỹ.
Các thành viên nhanh chóng được đưa đến một trường huấn luyện đặc biệt, cách Berlin 75 km. Tại đây, trong vòng 3 tuần, họ được huấn luyện các kỹ thuật tấn công phá hoại như sử dụng chất nổ, ngòi nổ hẹn giờ, lựu đạn, súng. Sau đó, họ được cấp một khoản tiền lớn để chi tiêu tại Mỹ trong vòng hai năm. 
Ngày 13/6/1942, một chiếc tàu ngầm bí mật chở 4 thành viên đầu tiên bao gồm George John Dasch (nhóm trưởng), Ernst Burger, Richard Quirin và Heinrich Harm Heinck tiếp cận bờ biển Long Island, New York. Nhóm biệt kích được lệnh mặc quân phục Đức để đề phòng trường hợp bị bắt khi xâm nhập thì sẽ được đối xử như tù binh chiến tranh chứ không phải gián điệp. Nếu việc xâm nhập suôn sẻ, họ sẽ chôn giấu đồng phục và nhanh chóng phân tán tới các địa điểm đã định.
Tuy nhiên, khi vừa kịp cất giấu quần áo thì hành tung đáng ngờ của nhóm bị một cảnh sát tuần duyên phát hiện. Nhóm trưởng Dasch tự xưng là ngư dân và hối lộ viên cảnh sát một khoản tiền để anh ta không làm khó dễ.
Sau khi giả vờ nhận hối lộ, viên cảnh sát đã trở về báo cáo cấp trên. Khi đội cảnh sát đặc nhiệm của Mỹ quay lại thì 4 thành viên đội biệt kích Đức đã kịp bắt tàu hỏa đi New York. Cục Điều tra liên bang Mỹ (FBI) bắt đầu chiến dịch truy tìm những "kẻ khả nghi", nhưng thông tin không được công bố để tránh dư luận hoảng sợ và đánh động các điệp viên Đức. Mặc dù vậy, FBI không biết toán điệp viên này đã đi đâu.
Đến ngày 17/6/1942, 4 thành viên còn lại của toán thứ hai đổ bộ an toàn lên bờ biển Jacksonville, Florida. Sau đó họ lên tàu lửa đi Cincinnati, rồi chia thành hai tốp, một tốp đi về hướng Chicago và một hướng về New York để thực hiện nhiệm vụ mà không ngờ rằng có người đã tiết lộ kế hoạch bí mật.
ke-hoach-tan-cong-khung-bo-nuoc-my-cua-hitler-1
Các điệp viên Đức xâm nhập bờ biển Mỹ từ tàu ngầm để đảm bảo bí mật. Ảnh minh họa: Wikipedia
Đó chính là nhóm trưởng Dasch, người tuy sinh ra tại Đức nhưng vượt biên tới Mỹ từ khi 20 tuổi. Năm 1927, ở tuổi 24, Dasch gia nhập quân đội Mỹ và phục vụ trong phi đội ném bom 72, trước khi xin phục viên danh dự một năm sau đó. Sau khi cưới một phụ nữ Mỹ vào năm 1930, Dasch được nhập quốc tịch Mỹ. Thế chiến 2 bùng nổ, Dasch theo tiếng gọi của quê hương đã quay lại Đức vào đầu năm 1940.
Từ khi quay lại nước Mỹ với vai trò là một đặc vụ, quyết tâm thực hiện kế hoạch phá hoại của Dash bị dao động bởi thành viên biệt kích này từng coi nước Mỹ như quê hương thứ hai của mình. Tâm lý bất an của Dasch càng tăng lên khi nhận ra đây là một kế hoạch "điên rồ" và khó khả thi. Dasch đã bàn bạc với một thành viên khác trong nhóm là Burger về việc đầu thú, và cả hai nhất trí sẽ nộp mình cho FBI.
Ngày 19/6/1942, Dasch phân công Burger ở nguyên vị trí đề phòng các điệp viên khác nghi ngờ, còn anh ta đi tàu hỏa đến trụ sở của FBI ở Washington để trình báo về kế hoạch. Ban đầu các quan chức FBI không tin Dasch, nhưng khi phát hiện số tiền lớn trong phòng khách sạn của anh ta, họ lập tức bắt giữ Dasch.
Những ngày sau đó, Dasch bị thẩm vấn kỹ lưỡng về danh tính của các thành viên trong nhóm cũng như các địa điểm nằm trong kế hoạch tấn công. Dựa theo lời khai của Dash, FBI nhanh chóng bắt gọn ba thành viên còn lại của nhóm cũng như tổ biệt kích đổ bộ lên bờ biển Florida.
Cả 8 biệt kích Đức sau đó đều bị tòa án quân sự Mỹ tuyên án tử hình. Tuy nhiên, giám đốc FBI đã xin Tổng thống Roosevelt giảm án cho Dasch xuống 30 năm tù và Burger xuống tù chung thân vì đã tự thú và có tinh thần hợp tác. Sáu thành viên còn lại bị xử tử trên ghế điện vào ngày 8/8/1942. 
Năm 1948, Tổng thống Mỹ Harry Truman ra lệnh thả tự do và trục xuất Dash cùng Burger về Đức, nơi họ không được chào đón và bị coi là những kẻ phản bội bán đứng đồng đội. Ở tuổi 89, Dasch qua đời lặng lẽ ở Đức vào năm 1992 và không hề được ghi nhận bất cứ công lao nào.

Người phạm tội ở Mỹ được bảo lãnh như thế nào

Mỹ cho phép người tình nghi phạm tội nộp tiền bảo lãnh để tại ngoại trong thời gian chờ xét xử, nhằm đảm bảo họ hầu tòa đúng thời hạn quy định.
nguoi-pham-toi-o-my-duoc-bao-lanh-nhu-the-nao
Trong quá trình điều tra, bị cáo có thể nộp tiền bảo lãnh để được tại ngoại. Ảnh minh họa: frontrangebb
Theo thông cáo của Văn phòng Biện lý quận Cam, bang California, Mỹ, nam diễn viên Minh Béo (tên thật là Hồng Quang Minh) đã bị bắt và cáo buộc ba tội danh, gồm: quan hệ tình dục qua đường miệng với trẻ vị thành niên, toan thực hiện hành vi dâm ô với trẻ dưới 14 tuổi và gạ gẫm trẻ nhỏ thực hiện hành vi dâm ô. 
Số tiền bảo lãnh tại ngoại đối với Minh Béo được đưa ra là một triệu USD. Theo biện lý Quận Cam, nếu bị phán quyết vi phạm toàn bộ cáo buộc trong phiên tòa ngày 15/4, Minh Béo có thể phải chịu mức án giam 5 năm 8 tháng tại nhà tù bang.
Theo luật pháp Mỹ, khi một người bị bắt giữ vì tình nghi phạm tội, người đó sẽ bị lưu giữ ở đồn cảnh sát, có thể bị lấy vân tay và chụp hình. Sau đó, bị cáo được gặp một quan chức tư pháp cấp thấp, có thể là thẩm phán địa phương hay ủy viên hội đồng. Tòa án tối cao Mỹ quy định rằng cảnh sát có thể bắt một người không cần trát và giữ người đó trong vòng 48 giờ, mà không cần phải có một phiên tòa xem xét việc bắt giữ đó có đúng hay không.
Thẩm phán địa phương sau đó sẽ xác định bị cáo có được bảo lãnh tại ngoại hay không, và nếu được thì số tiền bảo lãnh là bao nhiêu. Theo hiến pháp Mỹ, yêu cầu duy nhất đối với số tiền bảo lãnh là nó không được "quá lớn". Thẩm phán có quyền từ chối cho bảo lãnh đối với những vụ án nghiêm trọng mà bằng chứng phạm tội có tính thuyết phục cao hoặc nếu thẩm phán tin rằng bị cáo sẽ chạy trốn.
Luật bảo lãnh ở Mỹ có sự khác biệt theo từng bang. Một số tiểu bang có quy định bảo lãnh rất nghiêm ngặt để các thẩm phán làm theo, được gọi là "bail schedule", liệt kê tất cả tội danh và số tiền bảo lãnh gắn với những tội đó.
Theo bảng quy định của Tòa án Thượng thẩm California, quận Cam, tội giết người đặc biệt nghiêm trọng không được cho phép bảo lãnh, còn các hình thức giết người khác yêu cầu số tiền bảo lãnh là một triệu USD. Tội bắt cóc có mức bảo lãnh là 100.000 USD trong khi tội bắt cóc đòi tiền chuộc cần một triệu USD.
Với các tội danh liên quan đến tấn công tình dục, theo quy định của quận Cam, số tiền bảo lãnh cho tội hiếp dâm là 100.000 USD, quan hệ tình dục phi pháp với người dưới 18 tuổi là 20.000 USD, quan hệ tình dục bằng miệng với nạn nhân dưới 18 tuổi là 50.000 USD, quan hệ bằng miệng với nạn nhân dưới 14 tuổi trong khi bị cáo lớn hơn nạn nhân 10 tuổi là 100.000 USD, thực hiện hành vi dâm ô với trẻ dưới 14 tuổi là 100.000 USD
nguoi-pham-toi-o-my-duoc-bao-lanh-nhu-the-nao-1
Diễn viên Minh Béo. Ảnh: Orange County District Attorney
Tuy nhiên, tùy trường hợp, viên chức tư pháp có thể xem xét vụ việc và đưa ra mức bảo lãnh khác với quy định. Các yếu tố được cân nhắc có thể là mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, hồ sơ tội phạm trước đó của bị cáo, xác suất bị cáo sẽ hầu tòa đúng quy định. Với đối tượng phạm nhiều tội danh, tòa chỉ chọn tội danh có mức bảo lãnh cao nhất để xác định số tiền bảo lãnh cuối cùng bị cáo phải chịu, theo quy định của quận Cam.
Có một số hình thức bảo lãnh được sử dụng tại Mỹ. Với hình thức dùng bên thứ ba, một người sẽ đứng ra bảo đảm với tòa án rằng bị cáo nhất định sẽ ra tòa để xét xử đúng kỳ hạn. Thông thường, để thực hiện việc này, bị cáo phải thuê người kinh doanh tiền bảo lãnh (KDTBL) và đưa cho họ một khoản thù lao bằng 10% tiền bảo lãnh.
Nếu bị cáo chịu ra tòa xét xử đúng quy định thì tòa sẽ hủy bỏ khoản tiền bảo lãnh. Còn nếu đến kỳ hạn mà bị cáo vẫn trốn tránh, người KDTBL phải tự nộp toàn bộ tiền bảo lãnh cho chính quyền bang.
Một hình thức bảo lãnh khác là bảo lãnh phần trăm, bị cáo sẽ chỉ đặt cọc một phần tiền bảo lãnh, thường là 10%, với thư ký tòa.
Trong một số trường hợp, tòa có thể yêu cầu hình thức bảo lãnh tiền mặt. Bị cáo phải trả toàn bộ số tiền bảo lãnh bằng tiền mặt, tòa sẽ giữ số tiền này cho đến khi vụ án được phán quyết. Tòa thường áp dụng hình thức này với những bị cáo có khả năng bỏ trốn cao hay với những bị cáo không xuất hiện ở phiên điều trần sơ bộ.
Một biện pháp thay thế bảo lãnh là giải phóng bị đơn bằng cam kết trước tòa, về cơ bản là một lời hứa của bị đơn sẽ quay lại tòa án vào ngày xét xử và không tham gia bất kỳ hành vi phạm tội nào trong quá trình tại ngoại. Tòa vẫn sẽ đưa ra mức tiền bảo lãnh nhưng bị cáo không phải trả trừ khi tòa yêu cầu.