Thứ Năm, 30 tháng 7, 2015

Nữ nhân viên nhà tù New York tiết lộ mối tình với kẻ vượt ngục

Được đối xử như người đặc biệt và chìm đắm trong những ảo tưởng mà hai kẻ vượt ngục tạo ra, Joyce Mitchell, nhân viên tại Trại cải tạo Clinton, đồng ý giúp những tên sát nhân thực hiện kế hoạch đào tẩu.
escaped-prisoners-1732-1438145953.jpg
Joy Mitchell xuất hiện trước tòa hôm 15/6. Ảnh: AP
Joyce Mitchell, người bị cáo buộc tiếp tay cho Richard Matt và David Sweat trốn thoát khỏi Trại cải tạo Clinton hồi đầu tháng trước, tiết lộ các tình tiết liên quan đến mối quan hệ của bà với hai phạm nhân trên trong một loạt biên bản lấy lời khai gửi lên cơ quan điều tra. Vai trò của Mitchell đối với kế hoạch vượt ngục cũng được làm rõ một phần.
Theo các tài liệu do ABC News thu thập, Mitchell luôn mơ về viễn cảnh được ngắm nhìn ánh hoàng hôn cùng Matt và Sweat. "Tôi thích được chú ý, thích cái cảm giác mà hai người đó tạo ra cho mình cũng như những suy tưởng về một cuộc sống hoàn toàn khác", bà nói.
Mối quan hệ giữa Mitchell và Matt nhen nhóm từ những yêu cầu giúp đỡ tưởng như vô hại. Matt từng vẽ tặng Mitchell bức chân dung ba cô con gái để bà tặng chồng nhân lễ kỷ niệm ngày cưới. Tuy nhiên, những cuộc nói chuyện sau đó nhanh chóng chuyển sang chủ đề tình dục. Mitchell còn gửi cho Matt những bức ảnh khỏa thân của mình.
Matt bắt đầu tạo dựng mối quan hệ với Mitchell sau khi kế hoạch vượt ngục của hắn và bạn tù Sweat hình thành. Trại giam Clinton từng điều tra Mitchell vì nghi ngờ bà lén lút qua lại với Sweat nhưng Mitchell khẳng định bà chỉ quan hệ tình dục với Matt.
Mitchell cho hay Matt khiến bà "cảm thấy mình đặc biệt". Đây chính là động cơ khiến Mitchell đồng ý tiếp tay cho Matt. Ban đầu, bà giúp hắn gọi cho con gái, sau đó là tuồn công cụ vượt ngục vào tù, gồm hai chiếc kính có đèn chiếu sáng, ốc vít, lưỡi cưa và găng tay.
Vào một ngày cuối tháng 4, Mitchell và Matt ngồi một mình tại xưởng may nhỏ trong tù và hắn bắt đầu hôn bà. "Tôi giật mình trước hành động đó", Mitchell kể. "Anh ta trao cho tôi một nụ hôn nóng bỏng". Những cử chỉ thân mật kiểu như vậy ngày càng tăng tiến về tần suất và mức độ. Mitchell dần dần bị cuốn theo.
Quá trình tuồn các vật dụng vượt ngục vào tù cũng được Matt và Mitchell tính toán rất kỹ. "Đầu tiên, tôi đưa hai lưỡi dao vào bằng cách gấp chúng lại rồi giấu dưới một chiếc bánh hamburger được để đông trong tủ lạnh", Mitchell cho biết. "Sau đó, tôi mang chiếc bánh này tới để vào tủ lạnh ở trại giam. Matt nói sẽ nhờ nhân viên quản giáo Palmer tới lấy".
Lần thứ hai, Matt muốn hai lưỡi cưa, hai chiếc đục và đôi găng tay. Mitchell vẫn dùng mánh khóe cũ để đưa các vật dụng này vào tù. "Chỉ cần bỏ bánh vào tủ lạnh, vài ngày sau nó sẽ biến mất", Mitchell nói.
Matt còn đưa cho Mitchell hai viên thuốc để bà đầu độc chồng mình. Mitchell không biết đó là thuốc gì những đã mang chúng về và vứt xuống bồn cầu.
Vào đêm Matt và Sweat thực hiện vụ vượt ngục, Mitchell lúc đầu đồng ý giúp hai tên này trốn thoát. Tuy nhiên, vào giờ phút cuối cùng, bà cảm thấy hoảng sợ và quyết định không làm theo kế hoạch bởi vẫn còn rất yêu chồng mình. Mitchell được yêu cầu lái xe mang theo điện thoại, thiết bị định vị, quần áo, súng, lều, túi ngủ, túi xách, rìu và cần câu tới bên ngoài nhà tù để đón Matt và Sweat.
Mitchell cho hay bà đồng ý giúp hai kẻ vượt ngục vì "chìm đắm trong ảo tưởng" và rất thích thú với sự quan tâm mà Matt hay Sweat dành cho mình cũng như ý tưởng có thể thay đổi cuộc đời. Tuy nhiên, những gì bà tưởng tượng đều đã sụp đổ.
Mitchell, 51 tuổi, hôm qua bị tuyên có tội trong việc tiếp tay cho hai phạm nhân Sweat và Matt vượt ngục khỏi Trại cải tạo Clinton. Bà có thể phải ngồi tù từ 2 - 7 năm vì những gì đã gây ra.
Theo Stephen Johnston, luật sư bào chữa cho Mitchell, bà khóc rất nhiều, lo lắng, chán nản, suy sụp và thấy vô cùng hối hận sau khi bị bắt. Chồng của Mitchell, ông Lyle, cảm thấy rất buồn nhưng vẫn ủng hộ vợ mình. Lyle cho rằng nhận tội là lựa chọn tốt nhất của Mitchell.
150606145342-escaped-ny-convic-9585-2374
Richard Matt (trái) và David Sweat. Ảnh NYTimes

Thứ Ba, 21 tháng 7, 2015

Vụ kiện 'đường lưỡi bò' - phép thử luật pháp quốc tế của Philippines

Vụ kiện "đường lưỡi bò" của Philippines là phép thử về tích hữu ích thực sự của luật pháp quốc tế trong việc giải quyết tranh chấp, nhưng Manila đang vấp phải những trở ngại lớn là chu trình pháp lý dài và lập trường không hợp tác của Bắc Kinh. 
arbitral-tribunal-delegates-JP-1925-7363
Đoàn đại biểu Philippines tham dự vụ kiện ở Hà Lan. Ảnh: Abigail Valte
Philippines được nhiều quốc gia trên thế giới ca ngợi vì họ là nước đầu tiên kiện Trung Quốc lên tòa. Toà Trọng tài thường trực (PCA) của Liên Hợp Quốc ở The Hague (La Haye), Hà Lan ngày 7/7-13/7 nghe giải trình của Philippines và sẽ quyết định xem tòa có đủ thẩm quyền xét xử vụ kiện hay không trong năm nay.
Richard Javad Heydarian, chuyên gia địa chính trị từ Đại học De La Salle, Philippines nhận định rằng chính quyền Aquino đã thực hiện một quyết định táo bạo khi trực tiếp thách thức Trung Quốc, không phải bằng vũ lực, mà bằng ngôn ngữ của pháp luật.
Theo cây bút Prashanth Parameswaran của The Diplomat, vụ kiện này mang ý nghĩa quan trọng vì đây là nỗ lực mạnh mẽ để gỡ rối tranh chấp Biển Đông theo quy định của pháp luật, chứ không phải là cách tiếp cận kiểu "lý lẽ thuộc về kẻ mạnh" mà Trung Quốc sử dụng trong vài năm qua.
Về lý thuyết, phiên điều trần vừa qua chỉ giới hạn xoay quanh câu hỏi về thẩm quyền của tòa án, thế nhưng Philippines đã đưa ra các tuyên bố vượt xa phạm vi hạn hẹp đó để nhấn mạnh ý nghĩa tột cùng của vụ kiện. Manila cho rằng vụ kiện này là phép thử cho tính thiết thực của luật pháp quốc tế. Ngoại trưởng Philippines Albert del Rosario nói rằng vụ kiện không chỉ quan trọng đối với Philippines mà còn với "pháp trị trong quan hệ quốc tế" nói chung, đặc biệt là việc thực thi Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển (UNCLOS).
Cơ chế giải quyết tranh chấp trong UNCLOS cho phép "các nước yếu thách thức các nước mạnh trên cơ sở bình đẳng, với niềm tin rằng quy định vượt qua sức mạnh; pháp luật vượt qua vũ lực. Theo lập luận đó, nếu quá trình giải quyết tranh chấp bằng tòa án độc lập này thất bại, thì mặc nhiên phần thắng đã thuộc về những bên cho rằng "lý lẽ thuộc về kẻ mạnh".
Tuyên bố của del Rosario rõ ràng nhằm kêu gọi cộng đồng quốc tế kiềm chế "sức mạnh áp đảo" của Trung Quốc ở Biển Đông. "Lập trường và hành động của Trung Quốc ngày càng trở nên hung hăng và khó nắm bắt" và "cần phải có sự can thiệp của tư pháp", ông del Rosario nói.
Trong khi Manila nhìn nhận vụ kiện của mình là một phép thử về luật pháp quốc tế, Trung Quốc lại phản bác rằng vụ kiện của Philippines "thực tế là chiêu trò khiêu khích chính trị" để "buộc Trung Quốc phải thỏa hiệp về tranh chấp". Bắc Kinh còn nói rằng mình là nạn nhân trong vấn đề Biển Đông và đã kiềm chế tối đa vì hòa bình và ổn định trong khu vực.
Bắc Kinh biết rằng nước này sẽ gặp khó khăn khi biện minh về yêu sách "đường 9 đoạn", giáo sư  Alexander Proel, một học giả châu Âu hàng đầu về luật hàng hải nhận định. "Tôi không tin rằng Trung Quốc có thể cung cấp được bằng chứng cần thiết liên quan đến các vùng mà nước này tuyên bố có chủ quyền tại Biển Đông", ông nói.
Thẩm quyền của tòa
Theo Tiến sĩ Xue Li, chủ nhiệm khoa Chiến lược Quốc tế tại Học viện Khoa học Xã hội Trung Quốc, Bắc Kinh tin rằng vụ kiện nhằm giải quyết vấn đề chủ quyền đối với các thực thể trên Biển Đông, vì thế tòa án không có thẩm quyền thụ lý. Còn với Philippines, vụ kiện nhằm yêu cầu trọng tài phán quyết xem yêu sách chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông dựa có tuân thủ UNCLOS hay không, và vấn đề này hoàn toàn nằm trong thẩm quyền của tòa. Trước sự bất đồng ý kiến giữa hai nước như vậy thì bên thứ ba có thể kết luận rằng vụ án thuộc phạm vi trách nhiệm của tòa án, trừ khi Trung Quốc đưa ra được bằng chứng phản bác.
Lập trường của Trung Quốc về thẩm quyền của trọng tài mang nặng tính chủ quan, do vậy, hiệu quả pháp lý của nó khá hạn chế. Ngoài ra, theo pháp luật của chính Trung Quốc thì quyền quyết định thuộc thẩm quyền của toà chứ không phải một trong hai bên trong vụ kiện.
Nếu như tòa án trọng tài quốc tế quyết định rằng cơ quan này có thẩm quyền thụ lý vụ việc thì các bên tranh chấp và liên quan khác sẽ tích cực hơn trong việc tận dụng UNCLOS để kiềm chế Trung Quốc. Một số học giả quốc tế còn đưa ra khả năng thành lập một "ủy ban hòa giải" (theo Phụ lục V của UNCLOS) như một cơ chế khác để giải quyết tranh chấp theo cách hòa bình.
Khó khăn
Vụ kiện của Philippines đặt tòa trọng tài vào thế khó. Nếu hội đồng tòa án quyết định rằng họ không có thẩm quyền xử lý và từ chối nghe lập luận từ Philippines, thì các nước sẽ nghi ngờ tầm quan trọng và tính thiết thực của việc giải quyết xung đột bằng luật pháp quốc tế.
Tuy nhiên, nếu họ quyết định tiếp tục thúc đẩy phiên tòa và đưa ra phán quyết bất lợi cho Bắc Kinh thì có nguy cơ rất lớn rằng hội đồng trọng tài "sẽ bị Trung Quốc, nước thế lực nhất trong khu vực, phớt lờ và chế giễu", Giáo sư Matthew C. Waxman tại Đại học Columbia nhận định. Một ngày sau khi kết thúc phiên điều trần thứ nhất, Trung Quốc đã kêu gọi Philippines từ bỏ vụ kiện mà thay vào đó là đàm phán trực tiếp với Bắc Kinh.
Nhiều học giả quốc tế đồng ý rằng Trung Quốc phải là bên đầu tiên làm rõ yêu sách chủ quyền của mình. Tuyên bố chủ quyền mà Bắc Kinh đơn phương đưa ra không rõ ràng và thống nhất. Cho đến tận bây giờ, vẫn chưa rõ Bắc Kinh tuyên bố chủ quyền với toàn bộ Biển Đông, hay chỉ là các thực thể, thủy sản và tài nguyên hydrocarbon trong khu vực. Nếu Trung Quốc không làm rõ tọa độ chính xác trong yêu sách của mình, thì các bên tranh chấp và liên quan sẽ khó có thể đưa ra được kế hoạch đối phó chung khả thi.
Thực tế, tòa trọng tài vẫn để cửa mở cho Trung Quốc. Bắc Kinh có thời hạn đến ngày 17/8 để hồi đáp với toà và họ sẽ đưa ra phán quyết trong năm nay.
Mặt khác, nhà phân tích địa chính trị Richard Heydarian bày tỏ lo ngại rằng trong khi Philippines mải mê đánh về mặt pháp lý thì Bắc Kinh đã kịp hiện thực hóa yêu sách chủ quyền.
"Chúng ta phải thực tế", ông nói. "Chu trình pháp lý diễn ra rất chậm. Có thể mất 1-3 tháng chúng ta mới được biết tòa có thẩm quyền xử lý hay không. Philippines đã bỏ ra hơn hai năm vào vụ kiện này, vậy mà đến giờ mới chỉ chạm đến vấn đề thẩm quyền của tòa".
Bắc Kinh "đang xây dựng đảo nhân tạo có đường băng", Heydarian nói. "Tôi lo rằng, nếu Trung Quốc giữ tốc độ hiện tại thì nước này sẽ phát triển bộ khung xương cho vùng nhận dạng phòng không (ADIZ). Về cơ bản, Trung Quốc có thể thống trị vùng trời và vùng biển, ngăn các bên liên quan tiếp tế quân đội" tại Biển Đông.
"Trung Quốc có thể thống trị thực địa, trong khi chúng ta vẫn còn cố gắng giành chiến thắng trong cuộc chiến pháp lý nặng nhiều về tính biểu tượng". Heydarian nhận định.

Philippines nguy cơ hụt hơi khi đối phó Trung Quốc trên Biển Đông

Nhiệm vụ hiện đại hóa quân đội của Philippines đang đứng trước nguy cơ mất động lực trong bối cảnh Manila nỗ lực ngăn chặn Bắc Kinh ở Biển Đông.
WO-AX207-PHILMI-M-20150719230619.jpg
Máy bay trực thăng UH-1 Huey của quân đội Philippines làm nhiệm vụ tại Mindanao. Ảnh: WSJ
Chuỗi các chương trình trị giá tới một tỷ USD với mục tiêu nâng cao năng lực quân sự của Philippines bị tạm ngừng từ cuối năm ngoái, các quan chức quốc phòng Manila cho biết. Sự trì hoãn này làm bật lên một thực tế rằng những nỗ lực nhằm tăng cường sức mạnh các đơn vị hải quân và không quân của Philippines đang sa lầy trong một loạt rắc rối, mà nguyên nhân xuất phát từ thói quan liêu, vấn đề thiếu kinh phí hay các cáo buộc tham nhũng, theo Wall Street Journal.
Chính vì thế, hàng loạt kế hoạch lâu dài xây dựng "khả năng răn đe đáng tin cậy tối thiểu", với trọng tâm là thiết lập nên những đội chiến đấu cơ và tàu chiến quy mô nhỏ nhưng chất lượng của Philippines, cũng sẽ phải hoàn thành muộn hơn ít nhất một thập kỷ, ông Jose Antonio Custodio, nhà tư vấn quốc phòng ở Manila, nhận định. Dựa trên những gì đang có trong tay ở thời điểm hiện tại, Philippines dường như vẫn thiếu phương tiện hữu hiệu để kìm hãm sự bành trướng của Trung Quốc tại các vùng biển tranh chấp.
"Chúng ta mới ở vạch xuất phát", ông Custodio nói. "Đặt trong bối cảnh Trung Quốc đang ráo riết xây dựng những căn cứ mới trên Biển Đông, tôi cho rằng bước đi này đã hơi trễ".
Hướng tới những trang thiết bị cũ từ các nước đồng minh như Mỹ hay Nhật Bản có thể là cách duy nhất để Manila nhanh chóng cải thiện năng lực quân đội, một nguồn tin am hiểu quy trình mua sắm quốc phòng Philippines cho hay. Chính quyền Tổng thống Benigno Aquino chắc chắn sẽ không mạo hiểm ký thêm những hợp đồng lớn khi cuộc bầu cử tổng thống sắp diễn ra vào giữa năm sau.
Những vấn đề nội tại
WO-AX209-PHILMI-16U-20150719180306.jpg
Đồ họa: WSJ
Ông Aquino từng hứa sẽ hồi sinh lực lượng quân đội đang trên đà suy thoái sau nhiều năm không được đầu tư đúng mức của Philippines bằng cam kết chi 1,7 tỷ USD sắm sửa vũ khí mới. Quyết định này ban đầu đạt một số thành công nhất định khi Manila hồi cuối năm 2013, đầu năm 2014, ký kết nhiều thỏa thuận quốc phòng có giá trị lên tới 834 triệu USD, trong đó bao gồm hợp đồng mua 12 chiến đấu cơ Hàn Quốc, ba máy bay vận tải Airbus, và một phi đội trực thăng chiến đấu từ Canada và Anh.
"Những con số này là bằng chứng thể hiện chính quyền ông Aquino đã tăng tốc đáng kể quá trình hiện đại hóa quân đội", phát ngôn viên tổng thống Herminio Coloma cho biết nhưng thêm rằng ông Aquino vẫn chưa ký một điều luật, theo đó, bổ sung hai tỷ USD cho công tác mua sắm quốc phòng, được quốc hội thông qua từ tháng 1/2013.
Khả năng tài chính của chính phủ không còn dồi dào bởi phải chi hàng tỷ USD cho công cuộc tái thiết sau thảm họa siêu bão Haiyan hồi năm 2013 là một trong những lý do dẫn tới sự trì hoãn, ông Custodio nhận xét.
Mức chi cũng giảm dần sau một bê bối xảy ra gần đây. Ba thượng nghị sĩ Philippines bị cáo buộc lập nên những tổ chức phi chính phủ ma để rút 220 triệu USD tiền công quỹ. Tuy cả ba người đều không thừa nhận nhưng vụ việc khiến chính quyền phải thắt chặt hơn quy định về mua sắm công, từ đó phần nào làm giảm tốc độ giải ngân đối với các hợp đồng quốc phòng.
Bản thỏa thuận mua hai tàu khu trục nhỏ cùng hai máy bay trinh sát tầm xa với giá trị lần lượt là 398 triệu USD và 132 triệu USD đều được ra chỉ thị phải hoàn thành vào cuối năm ngoái nhưng đến nay vẫn gặp nhiều trở ngại, bất chấp việc những khí tài quân sự này có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao khả năng giám sát lãnh hải của Philippines trước áp lực từ Trung Quốc.
"Bế tắc trên xuất phát từ cơ chế quan liêu", ông Custodio bình luận. Các công ty quốc phòng nước ngoài dù rất muốn bán hàng cho Philippines nhưng buộc phải chờ cho đến khi những rắc rối hành chính được thông suốt. "Có vẻ như mọi chương trình đều đang bị đóng băng", một chủ thầu quốc phòng phương Tây có dự án bị đình trệ cho hay.
Tướng Pio Catapang, chỉ huy quân đội Philippines, từng lên tiếng thúc giục Manila đầu tư nhiều hơn cho quốc phòng nhằm đối phó với việc Trung Quốc đẩy mạnh cải tạo phi pháp các bãi đá trong vùng biển tranh chấp trên Biển Đông. Ngân sách quốc phòng của Philippines năm ngoái là 3,3 tỷ USD, thấp hơn nhiều so với các quốc gia láng giềng như Singapore với 9,5 tỷ USD, Indonesia, 7,5 tỷ USD và Malaysia, 4,9 tỷ USD.
Trong quá trình điều tra về nỗ lực hiện đại hóa quân sự của Philippines, một số nghị sĩ cũng phải đặt dấu hỏi về tính hiệu quả của những khoản tiền đã chi. Họ đòi điều tra cả một hợp đồng mua 21 trực thăng cũ mà bộ quốc phòng nước này hủy hồi tháng 4 sau khi chỉ nhận 7 chiếc với lý do quan ngại về chất lượng công nghệ. Nhưng một quan chức ngành thuế lại tuyên bố có hiện tượng "lại quả" trong thương vụ này. Bộ quốc phòng Philippines phủ nhận mọi cáo buộc.
Theo chuyên gia tư vấn Custodio, việc chương trình thu mua trực thăng bị hủy đã tác động đến các quan chức quốc phòng, khiến họ lưỡng lự hơn trong việc đặt hàng những hợp đồng mới.
Tổng thống Aquino do đó phải vận động sự trợ giúp từ các nước đồng minh. Nhật Bản hiện cho Philippines vay 183 triệu USD để đóng mới 10 tàu tuần tra, đồng thời cân nhắc bán lại các máy bay trinh sát trên biển P-3C Orion cũ cho Manila, thể theo đề xuất mà tổng thống Aquino đưa ra trong chuyến công tác Nhật hồi đầu tháng 6. Ngoài ra, Australia, Hàn Quốc và Mỹ vài năm qua cũng cung cấp nhiều gói hỗ trợ quân sự cho Philippines và phát đi tín hiệu rằng sẽ tiếp tục tăng cường những nỗ lực này.
Nhưng theo ông Custodio, những giải pháp tạm thời không thể tạo dựng khả năng răn đe của Manila nhằm chống lại các động thái cứng rắn trên biển của Bắc Kinh. "Trung Quốc đang đứng ngay trước cửa nhà chúng ta rồi", ông nhấn mạnh.
AI-CQ822-PHILMI-M-20150707232107.jpg
Chiến hạm Ramon Alcaraz của Manila tham gia cuộc tập trận chung cùng Washington hồi tháng 6 năm ngoái. Ảnh: AFP

Thứ Hai, 13 tháng 7, 2015

Ký ức của người phiên dịch cho Bill Clinton ở Hà Nội năm 2000

Đang ăn tối với hai cấp trên là sĩ quan quân đội Mỹ, Ron Ward bất ngờ nhận lệnh đi làm thông ngôn cho Tổng thống Bill Clinton tại Hà Nội. Vội mặc complet, Ron tới trung tâm hội nghị, phiên dịch cho tổng thống cả tối hôm đó cho đến khi ông về nước.
Tổng thống Mỹ Bill Clinton (áo đen)  giúp Dan và David Evert (đi phía sau) đi tìm kiếm hài cốt của cha, từng là phi công tham chiến và tử nạn ở Việt Nam. Ảnh: AFP.
Tổng thống Mỹ Bill Clinton (áo đen) thăm hiện trường khai quật máy bay Mỹ bị bắn rơi vào năm 1967 ở huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc năm 2000. Ảnh: AFP
Tháng 11/2000, khi Tổng thống Clinton sắp sang thăm Việt Nam, ông Ron Ward đang là một quân nhân phụ trách phiên dịch và phân tích, điều tra tại Văn phòng Đặc trách vấn đề MIA (quân nhân Mỹ mất tích) ở Hà Nội.
Đây là lần đầu tiên một tổng thống Mỹ tới Việt Nam, 25 năm sau khi chiến tranh kết thúc. Theo kế hoạch, ông Clinton sẽ đến thăm hiện trường khai quật máy bay Mỹ bị bắn rơi vào năm 1967 ở huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc, cách Hà Nội khoảng hơn một tiếng đi xe. 
"Trong vòng một tháng trước chuyến thăm, tôi và các đồng nghiệp phải đi tiền trạm đến hiện trường cùng các nhân viên của Nhà Trắng để chuẩn bị về an ninh và hậu cần. Qua đó, họ biết rằng có một người Mỹ có khả năng nói tiếng Việt và ghi nhớ điều đó", ông Ron kể. 
Khi đến Việt Nam, Tổng thống Clinton mang theo một phiên dịch viên là người gốc Việt đã lớn tuổi. Trong quá trình Clinton đang phát biểu tại trường Đại học Quốc gia Hà Nội, người phiên dịch này gặp trục trặc và dừng công việc, khiến các sinh viên phải nghe hoàn toàn bằng tiếng Anh. Tối hôm đó, Tổng thống Mỹ còn có một cuộc họp về công tác tháo gỡ bom mìn sau chiến tranh ở Trung tâm Hội nghị Quốc tế tại Hà Nội.
Mệnh lệnh bất ngờ
Đang ngồi ăn cùng các cấp trên là hai quan chức quân đội Mỹ thì ông Ron nhận được điện thoại từ đại diện của Nhà Trắng, thông báo rằng ông được cử làm phiên dịch cho ông Clinton tại cuộc họp trên.
"Ông tướng là sếp lớn của tôi nói rằng: 'OK, ông mặc complet đi'", Ron kể. "Khoảng 45 phút sau đó tôi phải có mặt ở đó mà không có sự chuẩn bị gì. Có hai người đã thử phiên dịch nhưng không được, và Nhà Trắng biết rằng có một người Mỹ biết tiếng Việt là tôi".
ron1-9284-1435050425.jpg
Ron Ward (trái) và một nhân chứng chiến tranh của Việt Nam. Ảnh: NVCC
Ron lập tức đến trung tâm hội nghị. Ông được giao nhiệm vụ "tổng thống nói gì thì dịch lại". Ông Clinton phát biểu về việc Mỹ và Việt Nam hợp tác để giải quyết hậu quả bom mìn sau chiến tranh ở các địa phương.
"May mắn là tôi vốn đã, đang làm việc trong quân đội nên tất cả những từ ông ấy nói đều quen thuộc với tôi. Tôi phiên dịch trong khoảng 20 phút. Mọi thứ hoàn toàn suôn sẻ. Tổng thống đã cảm ơn tôi", Ron kể. 
Khi Clinton ra sân bay Nội Bài để trở về Mỹ, ông Ron mặc lại bộ quân phục và tiếp tục làm phiên dịch cho tổng thống, phu nhân Hillary Clinton cùng con gái của họ, Chelsea.
"Sau khi chia tay với các quan chức Việt Nam, ông ấy gặp tôi và nói: 'A! ông là phiên dịch. Ông là phiên dịch viên đã giúp tôi' ", Ron kể lại khoảnh khắc trò chuyện với tổng thống Mỹ.
Tôi trả lời: "Vâng, thưa ông, tôi là người lúc nãy làm phiên dịch cho ông".
Ông ấy hỏi: "Ông học tiếng Việt ở đâu?"
Tôi đáp: "Tôi học tiếng Việt trong Viện Ngôn ngữ học của Bộ Quốc phòng". 
Bà Hillary cũng nói: "Ồ, cảm ơn. Ông rất có kỹ năng". 
Ron Ward học tiếng Việt từ những năm 1980 và khi được cử sang làm việc tại Việt Nam vào năm 1992, ông đã có 10 năm học ngôn ngữ này. Ông là chuyên gia Xử lý Thương vong, phân đội 2 (DET 2), thuộc Bộ chỉ huy Hỗn hợp Tìm kiếm Tù binh và Người mất tích trong chiến tranh của Mỹ (JPAC). Ron là một trong những người đóng vai trò kiến tạo chương trình tìm kiếm tù binh và người Mỹ mất tích trong chiến tranh (POW/MIA) ở Việt Nam. 
Đến nay, Ron Ward đã có 23 năm gắn bó với công việc nhân đạo này. Mối nhân duyên của ông với Việt Nam càng trở nên trọn vẹn hơn khi ông kết hôn với một phụ nữ Việt và có hai con. 

Trở ngại tưởng không thể vượt qua ở chặng đầu quan hệ Việt - Mỹ

Ở chặng đầu nỗ lực cải thiện quan hệ, Việt Nam và Mỹ phải đối diện với vô vàn khó khăn do lịch sử để lại, do sự ngờ vực và chống phá của các phe nhóm.
Đại sứ đầu tiên của Việt Nam tại Mỹ Lê Văn Bàng chia sẻ về thuở ban đầu của quan hệ Việt - Mỹ, nhân 20 năm bình thường hóa quan hệ ngoại giao hai nước.
bang-9898-1435020077.jpg
Cựu đại sứ Việt Nam tại Mỹ Lê Văn Bàng. Ảnh: Việt Anh
- Những ngày đầu Việt Nam nỗ lực biến quan hệ với Mỹ từ thù thành bạn đã diễn ra như thế nào?
- Giai đoạn đó có rất nhiều trở ngại, từ quốc hội, chính phủ Mỹ, báo giới, người dân, cựu binh và cả cộng đồng người Việt di tản sau chiến tranh. Có những trở ngại gần như gây nản chí nếu mình mong nó phát triển nhanh. Khó khăn này kéo dài suốt từ những năm 1980 đến năm 1995, là tất yếu do lịch sử để lại. Việt - Mỹ từng ở hai bên chiến tuyến, dùng tất cả những gì có thể để đánh bại bên kia, khi cuộc chiến chấm dứt thì những điều đó vẫn còn đọng lại trong từng người, không dễ mất đi được. Nhưng cả lãnh đạo và nhân dân Việt Nam đều mong muốn phá bỏ bao vây cấm vận, điều đó là cần thiết.
- Những trở ngại đó cụ thể là gì?
Có một trở ngại chính là vấn đề người Mỹ mất tích (MIA) và tù binh chiến tranh (POW). Mặc dù từ năm 1973 Việt Nam đã thả hết tù binh nhưng phía Mỹ vẫn nói "còn người bị giam giữ ở Việt Nam thì không có chuyện bình thường hóa quan hệ".
Rồi vấn đề người di tản, tôi ở Mỹ 9 năm thì thì có đến hàng trăm cuộc biểu tình phản đối, số lượng lên đến hàng nghìn người, họ ném đá, ném trứng thối, phá các chuyến thăm Mỹ của các lãnh đạo Việt Nam. Đến mức tôi đi đến đâu cũng phải cảnh giác với biểu tình vì chắc chắn có khoảng vài ba trăm người ở một bang nào đó đứng trước cổng "đón". Kinh khủng nhất là tháng 8/1995, tôi đến quận Cam và phát biểu công khai trước đám đông, đó cũng là lần đầu tiên một quan chức Việt Nam đến đối thoại trực diện với người dân Mỹ.
- Hai nước lúc đó đưa ra với nhau những điều kiện gì?
- Suốt từ năm 1975 đến 1995, ưu tiên của Việt Nam là bỏ cấm vận, mà để bỏ cấm vận thì hai nước phải thiết lập quan hệ liên lạc. Trong giai đoạn 1985-1988, Việt Nam chào đón Mỹ sang thảo luận các vấn đề MIA đồng thời với việc bàn bạc bỏ cấm vận. Cuối năm 1988, Việt Nam yêu cầu Mỹ cho lập văn phòng ở Washington DC để thông tin về hài cốt lính Mỹ mất tích, họ hứa về báo cáo với Quốc hội nhưng sau đó không được. Việt Nam thì tuyên bố không tiếp tục thương lượng về MIA nữa. Mọi chuyện tưởng như đi vào bế tắc.
Lúc đó Thượng nghị sĩ John McCain và Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch phải đứng ra "dàn hòa". Đến tận tháng 1/1995, cựu tổng thống Mỹ Bill Clinton tuyên bố hai bên đồng ý thiết lập văn phòng liên lạc tại Washington.
- Có lần nào hai bên gần đạt được thành quả rồi bị thất bại?
Đầu năm 1993 tôi được cử sang làm Đại sứ tại Liên Hợp Quốc (LHQ), mọi người ở nhà hy vọng "khoảng 6 tháng nữa Việt Nam sẽ thiết lập một cơ quan liên lạc ở Washington". Đột nhiên đến khoảng tháng 3, tháng 4, phía Mỹ đưa ra cái gọi là tài liệu của Thượng tướng Trần Văn Quang, cựu thứ trưởng Quốc phòng Việt Nam gửi cho Bộ Chính trị, báo cáo về việc "đưa tù binh Mỹ từ Việt Nam sang Nga" như thế nào. Sự kiện đó như quả bom nổ tung, làm tan nát hết các dự định giữa hai bên. 
- Sự thực là sao thưa ông?
- Thời điểm đó ông Bill Clinton dự định có thể đi tới thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam, nhưng sau đó chính quyền phải tạm dừng. Việt Nam cũng tạm dừng nỗ lực và đi điều tra tài liệu về "tù binh bị đưa sang Nga". Khi ấy Mỹ và Nga có quan hệ tương đối hòa giải, vì thế khi Washington kiểm tra lại xem tài liệu đó có trong kho lưu trữ thật không, Moscow nói không có, báo cáo kia là giả. Báo cáo đó thuộc về một trong những nhóm cựu hữu chống phá quan hệ Việt - Mỹ, họ không phải hoạt động theo cảm tính, mà có nghiên cứu và chuẩn bị hẳn hoi. Họ thuê người viết các báo cáo, chờ xem Mỹ và Việt Nam tuyên bố cái gì thì họ tung ra. Hai bên giải quyết được rất nhiều vấn đề, nhưng đến đoạn gần cuối vẫn bị họ phá. Chính vì những tài liệu như thế mà đến tận cuối năm 1993 ông Bill Clinton mới tuyên bố cho Việt Nam vay tiền của Ngân hàng Thế giới (WB) và đến tháng 2/1994 mới tuyên bố bỏ lệnh cấm vận. Mất rất nhiều thời gian như thế.
Việt Nam còn phải chứng minh như thế nào nữa để Mỹ không hoài nghi về vấn đề POW?
- Khoảng năm 1991 hoặc 1992, đoàn Mỹ nói với Việt Nam rằng họ nhận được tin vẫn còn người Mỹ còn sống (bị giam làm tù binh), đề nghị Việt Nam chuẩn bị một chiếc trực thăng, "khi nào ăn cơm xong sẽ đi". Đoàn sau đó lên đường sang Gia Lâm, và khi lên máy bay, họ chỉ đến Thanh Hóa, máy bay đỗ xuống một khu rừng, đó chính là trại tù binh trước đây. Nhưng lúc đó đã tan hoang rêu phong rồi, không còn ai. Sau năm 1994 thì mức độ nghi ngờ có giảm đi.
Có một vài người, trong đó ông John McCain có thể coi là "người tháo nút" nhiều vấn đề, ông có quyền lực và nhìn xa trông rộng. Từ cấp cao thì có ông Bill Clinton. Ngoài ra còn có Thượng nghị sĩ John Kerry (nay là Ngoại trưởng Mỹ), bà Virginia Foote, người tiếp cận Nhà Trắng rất sát sao về các vấn đề Việt Nam.
bang-2-8285-1435020077.jpg
Đại sứ Lê Văn Bàng (giữa) gặp Tổng thống Mỹ Bill Clinton năm 1997 về việc mở cơ quan ngoại giao. Ảnh: Nhân vật cung cấp
- Nhìn lại chặng đường bình thường hóa quan hệ Việt - Mỹ, những thành tựu nào hai nước đã đạt được mà trước đây ông tưởng rằng sẽ rất khó khăn?
- Hai bên đã đạt được những kết quả rất nổi bật, chẳng hạn như Việt Nam xuất sang Mỹ hơn 29 tỷ USD năm ngoái, số sinh viên Việt đang học ở Mỹ gần 17.000, khá cao so với các nước trong khu vực và thế giới. Đáng kể là quan hệ quân sự. Hồi xưa tôi từng tìm hiểu xem Mỹ có thể bán thiết bị kỹ thuật cao hoặc các thiết bị phi sát thương cho Việt Nam nhưng rất khó. Khoảng năm 1996-1998, Nhà nước yêu cầu tôi thử tiếp cận công ty tư nhân của Mỹ để mua một số động cơ của tàu cao tốc, trang bị cho tàu trên biển. Tôi hỏi một công ty ở bang Connecticut, làm việc xong thì gửi đề nghị lên Bộ Ngoại giao Mỹ nhưng không được. Đến 2004 Việt Nam đề nghị mua vũ khí của Mỹ nhưng cũng không được chấp thuận.
Bây giờ thì họ hứa bán cho mình. Nói chung quan hệ kinh tế, quân sự và đào tạo là những điều trước đây rất khó khăn, mà giờ đạt được rồi. Tôi từng nghĩ quan hệ chiến lược Việt - Mỹ rất "xa vời", nhưng tôi hiểu thực chất quan hệ toàn diện bây giờ có ý nghĩa chiến lược, đó là thành tựu rất nổi bật. Việc hợp tác với Mỹ có thể góp phần thúc đẩy Việt Nam phát triển hơn nữa, duy trì được hòa bình, ổn định.
bang-3-1430-1435020077.jpg
Ông Lê Văn Bàng, cùng Thượng nghị sĩ John Kerry (bìa trái), hiện là ngoại trưởng Mỹ, và Thượng nghị sĩ John McCain, ngoài cùng bên phải, trong lễ khai trương các dự án của Cơ quan Đầu tư tư nhân hải ngoại (OPIC) tại Việt Nam, tháng 3/1998. Ảnh: NVCC

Trung Quốc công khai diện tích bồi đắp lớn ở Trường Sa

Trung Quốc tuyên bố sắp hoàn thành quá trình cải tạo tại bãi đá Vành Khăn và Subi thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam và công khai diện tích cải tạo của các bãi đá này.

 
Trang mạng Sina hôm nay đăng tải bài báo công bố loạt hình ảnh vệ tinh về thực trạng quá trình bồi đắp đảo nhân tạo của Trung Quốc tại bãi đá Vành Khăn và Subi thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam.
Ảnh được chụp hôm 10/6 cho thấy một số tàu Trung Quốc đang hoạt động tại bãi đá Vành Khăn.
 
 
Bài viết trên Sina cho biết Trung Quốc chuẩn bị hoàn thành việc mở rộng trên cả Subi và Vành Khăn. Tính đến ngày 10/6, diện tích Vành Khăn đã tăng đến 5,52 km2, diện tích Subi đạt khoảng 3,95 km2. Trong ảnh là một góc của đá Vành Khăn.
 
 
Tàu nạo vét Trung Quốc ra vào nhộn nhịp tại bãi đá Vành Khăn.
Bắc Kinh hôm 16/6 tuyên bố sắp hoàn tất cải tạo một số bãi đá thuộc quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam. Trong thời gian sắp tới, nước này sẽ tiến hành xây dựng các công trình dân sự trên những thực thể này. Tuy nhiên, giới chuyên gia cho rằng Bắc Kinh có khả năng sẽ quân sự hóa những tiền đồn mà họ đang cải tạo trái phép trên Biển Đông. Trung Quốc ngang nhiên cho rằng những dự án xây dựng trên là hợp pháp và thuộc về cái gọi là chủ quyền của nước này.
 
 
Một bãi đất rộng được hình thành trên bãi đá Vành Khăn.
Nhiều diễn đàn quân sự Trung Quốc gần đây còn đăng tải những hình ảnh được cho là bản đồ quy hoạch 10 km vuông bãi đá Vành Khăn, với nhiều hạng mục như casino, điểm du lịch. Theo đó, diện tích xây dựng là 6,29 km2, quy hoạch dân số là 70.000 người. Bản quy hoạch ghi rõ bãi đá Vành Khăn có vị trí địa lý quan trọng, vị trí quân sự chiến lược, đồng thời là trung tâm cảng biển khu vực, chỉ đứng sau thành phố Hồ Chí Minh.
 
 
Tờ Global Times, cơ quan ngôn luận của đảng Cộng sản Trung Quốc hôm 17/6 còn công bố hình ảnh một chiến hạm, được cho là tàu vận tải đổ bộ Jinggang Shan thuộc lớp Yuzhao Type 71 (vòng tròn đỏ) xuất hiện tại đá Vành Khăn. Ảnh: Huanqiu
 
 
Hình ảnh bãi đá Subi được chụp hôm 5/6. Theo Diplomat, Bắc Kinh trung bình mỗi ngày mở rộng trái phép đá Subi thêm 32.000 m2 khiến diện tích bãi đá này tăng 74% so với gần hai tháng trước.
 
 
Theo một số báo cáo, trên Subi còn xuất hiện một dải đất trống lớn. Địa hình khu đất này rất giống với nơi mà nay đã trở thành một đường băng trên bãi đá Chữ Thập. Điều này khiến giới phân tích suy đoán Trung Quốc cũng sẽ xây dựng một đường băng tương tự tại đây.
 
 
Tàu Trung Quốc đang hút cát để mở rộng Subi. Nơi này hiện có kênh tiếp cận, cầu cảng, các thiết bị thông tin liên lạc, radar, đê chắn sóng gia cố, bãi đáp trực thăng cùng một số cơ sở quân sự
.

Thứ Sáu, 10 tháng 7, 2015

Một ngày trên tàu sân bay khổng lồ của Mỹ

Tàu sân bay lớn nhất của Mỹ USS Theodore Roosevelt có thể dự trữ đủ lương thực để duy trì hoạt động trong 90 ngày, phục vụ trên 18.000 suất ăn mỗi ngày.
Động cơ của máy bay chiến đấu Ong bắp cày F/A-18C phụt luồng lửa mạnh khi chuẩn bị cất cánh từ tàu sân bay USS Theodore Roosevelt (CVN-71) trên Vịnh Ba Tư hôm 18/6.
Mỹ điều động chiến hạm này tới khu vực nhằm đảm nhận vai trò một căn cứ để triển khai các hoạt động tấn công nhóm khủng bố Nhà nước Hồi giáo (IS) ở Iraq và Syria.
 
Một thành viên thuộc đội tháo gỡ vật liệu nổ (EOD) của hải quân Mỹ đứng cạnh dàn tên lửa được trang bị cho tàu.
USS Theodore Roosevelt được coi là tàu sân bay hiện đại và lớn nhất của Mỹ. Tàu có chiều dài hơn 320 m. Boong tàu, rộng khoảng 18.000 m2, là nơi cất cánh của hơn 60 máy bay chiến đấu.
 
Các thành viên đội EOD hôm 18/6 di chuyển vũ khí trên sàn tàu.
Tàu sân bay USS Theodore Roosevelt được coi là biểu tượng sức mạnh của hải quân Mỹ, với 4 đường băng cùng 4 máy phóng phi cơ. Vận tốc của tàu có thể lên tới 64,8 km/h. Tàu có khả năng mang theo 90 phi cơ các loại và hơn 5.000 binh sĩ.
 
Các phi công hải quân Mỹ đang tiến tới máy bay để chuẩn bị thực hiện nhiệm vụ.
USS Theodore Roosevelt có thể dự trữ đủ lương thực để duy trì hoạt động trong 90 ngày. Tàu phục vụ trên 18.000 suất ăn trong một ngày. Nhà máy khử muối trên tàu mỗi ngày sản xuất lượng nước đủ dùng cho 2.000 gia đình.
 
Các thủy thủ làm việc trên đài chỉ huy tàu.
USS Theodore Roosevelt trị giá khoảng 4,5 tỷ USD, được đưa vào sử dụng từ ngày 25/10/1986. Hoạt động quân sự lớn đầu tiên của chiến hạm này được đánh dấu bằng sự góp mặt trong chiến dịch Bão táp Sa mạc năm 1991.
 
Làn khói mù mịt bốc lên xung quanh một nhân viên hoa tiêu trên tàu sau khi một chiến đấu cơ vừa cất cánh khỏi đường băng.
Lần làm nhiệm vụ lớn nhất gần đây của tàu USS Theodore Roosevelt là vào năm 2002. Khi đó, nó hoạt động liên tiếp 159 ngày trên biển, phá vỡ kỷ lục về thời gian hoạt động lâu nhất trên biển của tàu chiến từ thời kỳ Thế Chiến II.
 
Chuẩn đô đốc Andrew Lewis sử dụng ống nhòm để quan sát hoạt động diễn ra trên tàu từ trung tâm chỉ huy.
Trong chuyến thăm 5 ngày tới Anh hồi tháng 3, tàu USS Theodore Roosevelt buộc phải neo đậu ngoài khơi bờ biển Hampshire bởi kích cỡ quá lớn khiến nó không thể cập bến tại xưởng đóng tàu Portsmouth của Hải quân Hoàng gia Anh.
 
Nhân viên tàu sân bay USS Theodore Roosevelt đeo những sợi dây móc trên vai. Họ dùng chúng để cố định các máy bay đậu trên sàn tàu.
 
Các thủy thủ trên tàu làm vệ sinh và kiểm tra một chiến đấu cơ.
 
Dàn tiêm kích F/A-18E/F Super Hornet xếp hàng ngay ngắn trên sàn tàu để chuẩn bị cất cánh.
 
Những quả tên lửa sẽ được sử dụng trong nhiệm vụ không kích các tay súng khủng bố IS
.

Trung Quốc chi bao nhiêu để sản xuất một chiến hạm

Số tiền Trung Quốc đầu tư chế tạo một tàu khu trục loại nhỏ có thể mua được 10 máy bay tiêm kích SU-30K hiện đại hoặc trả lương cho 64.000 sĩ quan quân đội nước này trong một năm.
JIANGKAI-II-class-frigate.jpg
Tàu khu trục nhỏ Jiangkai-II Type 054A. Ảnh: SUAU
Chi tiết số tiền phải bỏ ra để hoàn thiện một tàu chiến chủ lực là thông tin luôn được giữ kín ở Trung Quốc. Chính vì thế, các chuyên gia quốc tế thường xuyên phải đảm nhận vai trò phân tích những dữ liệu quan trọng này bởi xác định được chi phí sản xuất chiến hạm sẽ góp phần nâng cao nhận thức chung về thực lực quân sự của Bắc Kinh.
Trong hàng loạt chiến hạm do Trung Quốc chế tạo, tàu khu trục nhỏ Jiangkai-II Type 054A là mẫu được lựa chọn để đánh giá bởi đây là tàu chiến sản xuất với số lượng lớn, trong thời gian dài và là khí tài quân sự tiêu biểu cho năng lực chiến đấu trên biển của quân đội Trung Quốc, theoDiplomat.
Gabe Collins, chuyên gia phân tích tại Viện nghiên cứu Hàng hải thuộc Đại học Chiến tranh Hải quân Mỹ, nhận định để một tàu chiến Jiangkai-II có thể xuất xưởng và sẵn sàng phục vụ, Bắc Kinh phải chi khoảng 348 triệu USD. Số tiền này được phân bổ vào nhiều hạng mục như chế tạo thân tàu, sắm sửa hệ thống động lực, máy phát điện, vũ khí cùng các thiết bị điện tử hay trả lương nhân công.
Riêng hệ thống điện tử của Jiangkai-II đã tiêu tốn 102 triệu USD, tương đương 29% tổng chi phí. Các nhà sản xuất thiết bị điện tử quân sự Trung Quốc không bao giờ tiết lộ về giá tiền các vật tư mà họ cung cấp cho quân đội. Hơn nữa, chính quyền cũng hiếm khi công khai đăng tải ngân sách dành cho việc mua sắm này. Vì vậy, bản phân tích chủ yếu dựa trên phương pháp đánh giá tham chiếu để ước lượng giá thành.
Hệ thống dữ liệu chiến đấu ZKJ-4B/6 mà tàu đang sử dụng được phát triển dựa trên nền tảng hệ thống dữ liệu chiến đấu Tavitac do nhà thầu quốc phòng Thompson CSF thiết kế. Trong cuốn sách của nhà phân tích hải quân Norman Friedman xuất bản năm 1997, tác giả tính toán rằng hệ thống này có giá khoảng 20 triệu USD. Vì sở hữu những đặc điểm tương tự nên ZKJ-4B/6 được cho là cũng có giá thành tương đương.
Radar tìm kiếm 3D Type 382 mà tàu Jiangkai-II được trang bị có giá xấp xỉ 15 triệu USD. Thế hệ trước của mẫu radar này có thể phát hiện đồng thời 50 mục tiêu và theo sát 10 mục tiêu trong số đó. Hệ thống định vị siêu âm (sonar) của tàu, được định giá khoảng 20 triệu USD, có khả năng thực hiện nhiều nhiệm vụ khác nhau như dò đường, phát hiện các đối tượng nghi vấn ở trên mặt, trong lòng hoặc dưới đáy biển. Bên cạnh đó, nhà sản xuất cũng phải bỏ ra khoảng 15 triệu USD cho hệ thống giúp kết nối và điều khiển máy móc.
Ngoài hệ thống điện tử giúp tàu vận hành và thực hiện các hoạt động như dò tìm, giám sát, thu thập thông tin, vũ khí cũng là nét đặc trưng làm nên uy lực của chiến hạm Jiangkai-II. Tổng số tiền đầu tư cho các loại vũ khí lên tới 84 triệu USD, trong đó đắt nhất là hệ thống bệ phóng thẳng đứng (VLS) vô cùng cơ động. Hệ thống VLS MK41 của Mỹ với 8 ống phóng có giá thành khoảng 15 triệu USD. Hệ thống VLS của tàu Jiangkai-II có số ống phóng nhiều gấp 4 lần vì thế giá thành cũng cao hơn, xấp xỉ khoảng 40 triệu USD.
Hai hệ thống pháo phòng không tầm ngắn (CIWS) Type 730 cũng là trang bị không thể thiếu làm nên sức mạnh của chiến hạm. CIWS là loại vũ khí phòng thủ điểm giúp phát hiện và tiêu diệt tên lửa đang tiếp cận tàu ở cự ly gần hay máy bay của kẻ thù đã xâm nhập và vượt qua những lớp phòng thủ bên ngoài. CIWS được coi là lá chắn cuối cùng của chiến hạm.
Hệ thống CIWS Type 730 gồm một pháo bắn nhanh 30 mm 7 nòng, sao chép nguyên mẫu pháo GAU-8/A của General Electric, một radar điều khiển cùng một hệ thống quang điện tử được lắp trên tháp pháo bọc kín hoàn toàn tự động. CIWS Type 730 chủ yếu được sử dụng để phòng thủ trước tên lửa đối hạm nhưng cũng có thể chống máy bay, tàu mặt nước, xuồng nhỏ, các mục tiêu ven bờ hay thủy lôi. Type 730 có hai biến thể là Type 1030 và Type 1130 trang bị pháo 30 mm 10 và 11 nòng. Hai hệ thống CIWS Type 730 trên tàu Jiangkai-II có giá khoảng 11 triệu USD.
w5ZjZ-4621-1434708286.png
Hệ thống pháo phòng không tầm ngắn (CIWS) Type 730 được trang bị trên tàu Jiangkai-II. Ảnh: World Defence
Ngoài ra, hệ thống động cơ đẩy của tàu có giá khoảng 32 triệu USD, thân tàu và các trang thiết bị khác tiêu tốn khoảng 45 triệu USD, tiền trả lương nhân công xấp xỉ 75 triệu USD.
Theo Diplomat, nếu chi phí thật sự để chế tạo một chiến hạm Jiangkai-II là 348 triệu USD và nhà máy đóng tàu thu về 5% lợi nhuận thì khi đến tay lực lượng quân đội Trung Quốc, khí tài quân sự này sẽ có giá thành khoảng 365 triệu USD. Số tiền trên mua được 13 chiến đấu cơ J-10 hoặc 10 máy bay tiêm kích SU-30K hay 177,5 triệu gallon nhiên liệu, đủ để mỗi phi cơ thuộc phi đội máy bay tiêm kích SU-30 gồm 97 chiếc của Trung Quốc nạp đầy 600 lần. Số tiền đầu tư cho một tàu Jiangkai-II cũng đủ để trả lương cho khoảng 64.000 sĩ quan quân đội nước này trong một năm
.